BÀI TUYÊN TRUYỀN
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 15/2026/QH16
(Văn phòng HĐND và UBND phường Thạch Khôi)
Ngày 23/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
Luật được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân; đồng thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Dưới đây là một số điểm mới nổi bật của Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1. Về người thi hành công vụ
Luật sửa đổi bổ sung đã mở rộng khái niệm "Người thi hành công vụ" bao gồm cả người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.
Bổ sung nhóm đối tượng được bảo vệ gồm người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (người thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác) và người thân của người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi).
2. Về phạm vi bồi thường:
Sửa đổi, bổ sung Điều 17 & Điều 33 (Phạm vi bồi thường & Cơ quan giải quyết trong quản lý hành chính)
Luật 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung chỉ áp dụng bồi thường khi không áp dụng hoặc áp dụng không đúng biện pháp bảo vệ người tố cáo theo Luật Tố cáo; giới hạn phạm vi bồi thường khi bị kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
Luật năm 2026 mở rộng phạm vi bồi thường nhà nước khi không áp dụng hoặc áp dụng không đúng, không kịp thời các biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ; Mở rộng diện công chức được bồi thường khi bị kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật lên tới công chức giữ chức vụ dưới Thứ trưởng và tương đương Thứ trưởng.
3. Xác định thiệt hại về tinh thần
Luật năm 2017 quy định mức thiệt hại tinh thần tính theo ngày lương cơ sở (01 tháng lương cơ sở chia cho 22 ngày) nhưng chưa có cơ chế dự phòng khi cải cách tiền lương.
Luật năm 2026 quy định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được xác định theo mức độ tổn hại nhưng tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở. Bổ sung quy định mang tính dự báo: Chính phủ hướng dẫn xác định thiệt hại về tinh thần và thiệt hại khác khi lương cơ sở bị bãi bỏ
4. Hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạm ứng kinh phí bồi thường
- Nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường: Luật 2017 chỉ quy định 02 hình thức nộp hồ sơ: trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.
Luật năm 2026 bổ sung hình thức gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường qua "Môi trường số" bên cạnh việc nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Ngoài ra, Luật giao trách nhiệm cho Chính phủ, Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số và xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường nhà nước
- Về tạm ứng kinh phí bồi thường:
Luật sửa đổi, bổ sung năm 2026 quy định mức tạm ứng kinh phí bồi thường do Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường quyết định nhưng không dưới 50% giá trị các thiệt hại về tinh thần và thiệt hại khác có thể tính được ngay.
5. Quy định cụ thể thời hạn xác minh, thương lượng và tối ưu hóa thời gian xử lý.
Luật sửa đổi bổ sung quy định cụ thể thời hạn xác minh, thương lượng như: Xác minh thiệt hại phải hoàn thành trong 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ (vụ việc phức tạp là 30 ngày; thời gian kéo dài theo thỏa thuận tối đa 15 ngày); Tiến hành thương lượng trong 02 ngày làm việc kể từ ngày có báo cáo xác minh và phải hoàn thành trong 10 ngày (phức tạp tối đa 15 ngày); Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày trao cho người yêu cầu bồi thường và phải ghi rõ số tiền đã tạm ứng (nếu có)
6. Bổ sung chính sách miễn trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại khi thuộc một trong các trường hợp:
- Thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn.
- Lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Trường hợp yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 để giải quyết; kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, đối với những công việc, thủ tục chưa có kết quả giải quyết thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó./.